Categories
DevOps

Triển khai private Docker Registry

docker-registry

Docker registry là nơi chứa các image trong quá trình khởi động các container. Hầu hết mọi người đang sử dụng các image có sẵn và nếu chưa biết thì nó được host tại Docker hub chính thức. Tuy nhiên, có một số hạn chế khi sử dụng docker hub như sau:
– Server đặt ở nước ngoài (khác VN)
– Tính phí cho các private image. Bạn không thể nào public các image nội bộ nên bạn chỉ có lựa chọn private image. Nếu bạn có một vài project thì chi phí không cao. Nhưng nếu bạn phát triển theo hướng microservice như mình thì sẽ có vài chục đến vài trăm private image, nếu thuê theo gói thì hoàn toàn không kinh tế lắm.

Với 2 hạn chế trên thì hầu hết các công ty tự triển khai các registry cho riêng mình vì registry cũng là open source. Bạn thuê / mua một con server, vps và start cái image registry 2.0 là xong, và có rất nhiều hướng dẫn trên mạng chỉ bạn cách dựng một private registry như vậy. Tuy nhiên, registry bạn dựng lên hầu như không thực tế và chỉ để test mà thôi.

Nội dung bài viết này mình hướng đến một cài đặt registry production tức là chạy thực sự chứ không phải để test đòi hỏi một số yêu cầu như tên miền riêng, ngắn, hỗ trợ https, có backup và có hỗ trợ ACL (Access Control List).

1. Tên miền và SSL Certificate

Tên miền

Bạn cần chọn một tên miền cho registry của mình. Lời khuyên của mình là chọn một tên miền khác với tên miền đang dùng và dự kiến là sẽ không public tên miền này ở port 80, 443, có nghĩa là không dùng tên miền này để chạy web server. Ví dụ mình chọn tên miền docker2.com là registry của mình.

Bạn có thể mua tên miền và tạo A record trở đến IP của VPS/Server của bạn.

SSL Certificate

Vì private registry mặc định hỗ trợ https nên bạn cần phải có SSL Certificate cho domain của mình. Cách đăng ký mua SSL Certificate thì có rất nhiều bài hướng dẫn, chịu khó google là ra. Ở đây mình ví dụ là mua ở sslcertificate.com.

Màn hình sau khi đăng ký mua SSL, ở đây mình mua SSL Certificate của Komodo vì thời điểm mình mua nó chỉ có giá 6$.

Quy trình tiếp theo của mua SSL Certificate là kích hoạt và nhập CSR của bạn. CSR (Certificate Signing Request) là một chuỗi có được trong quá trình tạo ra private key. Nó chứa các thông tin cần thiết trong quá trình tạo ra SSL Certificate của bạn. Bạn phải cung cấp CSR thì mới có được SSL Certificate.

Có thể dễ dạng tạo ra cặp CSR và private key thông qua openssl, ví dụ trong hình là mình tạo csr và private key.
docker-ssl-generate-csr-key

Lưu ý là “common name” thường là domain hoặc subdomain dùng để đăng ký SSL Certificate. Vì loại SSL Certificate rẻ nhất chỉ áp dụng cho 1 domain hoặc subdomain. Còn loại Wildcard SSL Certificate thì áp dụng cho toàn bộ subdomain của 1 domain nên giá của wildcard khá chát.

Bạn copy nội dung của file CSR bỏ vào phần thông tin yêu cầu CSR của nhà cung cấp.
docker-ssl-csr-input

Màn hình confirm các thông tin CSR và thông tin sẽ submit để lấy SSL Certificate
Màn hình confirm các thông tin CSR và thông tin sẽ submit để lấy SSL Certificate

Sau đó, bạn làm theo chỉ dẫn của nhà cung cấp để có các file cần thiết của Certificate. Bạn sẽ nhận được 1 file Certificate hoặc nội dung email chứa certificate của bạn. Thường thì với certificate này là có thể cấu hình ssl được. Tuy nhiên, hầu hết các nhà cung cấp SSL đều có một (một số) key gọi là intermediate certificate (cũng là file crt). Khi tạo file crt cuối cùng thường nối thêm các file intermediate certificate này nữa. Có thể nối thông qua câu lệnh CAT.

Ví dụ trong trường hợp mua SSL của COMODO, ngoài file CRT của domain, họ còn cung cấp 1 số intermediate crt, có thể gom các crt và tạo ra bundle các certificate bằng câu lệnh sau:

cat docker2_com.crt \
AddTrustExternalCARoot.crt \
COMODORSAAddTrustCA.crt \
COMODORSADomainValidationSecureServerCA.crt > docker2_com_full_bundle.crt

Bạn sẽ dùng file crt bundle này và file .key (generate ở bước tạo csr) là có thể cấu hình được https.

Để thuận tiện cho các bước chạy các container, đổi tên file bundle crt thành file “domain.crt” và file .key thành “domain.key”. Tiến hành đến bước khởi tạo private registry.

Khởi tạo docker registry

Khởi tạo một private registry khá đơn giản và mình không mục đích hướng dẫn lại những cái đã được đề cập ở những nơi khác. Phần này sẽ hướng dẫn mọi người dựng private registry và có sử dụng ACL (Access Control List) dùng cơ chế Token để phân quyền dựa theo bài viết http://the.binbashtheory.com/creating-private-docker-registry-2-0-with-token-authentication-service/.

Trước tiên khởi tạo thư mục với cấu trúc sau:

docker-registry-tree

Trong thư mục này thì 2 file “domain.crt” và “domain.key” là 2 file đã được đề cập ở phần 1.

Nội dung file “docker-compose.yml” sẽ là chỉ dẫn để khởi tạo 2 container từ 2 image có sẵn “registry” để tạo container chạy registry 2.0 và image “cesanta/docker_auth” để sử dụng cơ chế token authentication. Trong file docker-composer.yml cũng tạo các volume mount đến các thư mục cần sử dụng như là “certs”, “data”, “log”…Lưu ý là thư mục “certs” sẽ được mount thành thư mục gốc “/certs” trong các container, điều này giải thích vì sao các đường dẫn của certificate bạn thấy là “/certs/domain.crt” và “/certs/domain.key” thay vì sử dụng đường dẫn khác.

Nội dung file “auth_config.yml” chính là config cho hệ thống phân quyền và config trỏ đến đường dẫn của 2 file certificate sau khi mount tại “/certs”. Bạn có thể tham khảo thêm chi tiết về image này tại project https://github.com/cesanta/docker_auth. Dưới đây là ví dụ file cấu hình của mình.

Lưu ý là phần password được tạo bên ngoài và copy vào file config. Password được tạo bằng “htpasswd -n -B yourusername” thì sẽ hiển thị password cho bạn. Ví dụ:
docker-acl-password-generator

Thư mục “log” dùng để lưu lại các log trong quá trình chứng thực private registry. Thư mục “data” là thư mục quan trọng, chứa toàn bộ dữ liệu của registry. Bạn có thể stop và remove container và khi start lại có thể mount lại volume trên thư mục “data” là có thể sử dụng được dữ liệu của registry. Bạn có thể backup thư mục “data” này để backup cho toàn bộ registry.

Sau khi các file và thư mục đã chuẩn bị sẵn sàng, bạn có thể sử dụng docker composer để nhanh chóng khởi động private registry của mình thông qua câu lệnh:

docker-composer up -d

Bạn có thể verify bằng cách thực hiện docker login, ví dụ: “docker login yourdomain:5000” và nhập “username” và “password” như đã cài đặt trong file “auth_config.yml”.

Cấu hình port 443 (HTTPS)

Trong một số trường hợp, mình muốn chạy domain của registry không cần port 5000, vậy thì mình phải config để có thể forward từ port 443 sang port 5000.

Hầu hết các request của mình đều thông qua Haproxy nên mình có thể điều hướng trong haproxy. Khi có request https đến từ port 443 thì forward sang port 5000 đang chạy registry service.

Bởi vì bản thân registry service đang chạy port 5000 hỗ trợ SSL nên mình cấu hình haproxy sẽ đơn giản hơn, bởi vì mình không terminate SSL tại haproxy mà service registry đang chạy trên port 5000 đã terminate SSL rồi. Do đó, cấu hình SSL ở Haproxy chỉ đơn giản là pass-through sang service đang chạy port 5000.

Ví dụ của file /etc/haproxy/haproxy.cfg:

Sau khi chỉnh sửa file config thì tiến hành reload haproxy để apply. Như vậy bạn có thể sử dụng yourdomain.com thay vì yourdomain.com:5000 như thông thường.

Lưu ý là làm cách này thì bạn không thể cung cấp được website bình thường (https) vì registry đã sử dụng port này rồi, nên domain để chạy registry thường không được sử dụng để truy cập trực tiếp nếu bạn muốn dùng https trên domain.

Hy vọng bài viết này sẽ giúp các bạn triển khai được một private registry ngon lành cho công ty của mình.

Categories
Technology Web Programming

Apitoy – Free Restful Documentation

Apitoy.com

Chắc hẳn là lập trình web thì mọi người đã từng một lần kết nối đến một hệ thống khác thông qua Web Service, có thể là SOAP, RESTful…Nội dung bài viết này mình sẽ chia sẻ với mọi người một số vấn đề và giải pháp mà mình đang gặp phải khi triển khai các Restful service.

Restful Documentation

Trong quá trình thiết kế Restful API, documentation (docs) cho API là một trong những thứ cực kỳ cần thiết để giúp bạn cũng như công ty, khách hàng dễ dàng làm việc trên API mà bạn thiết kế.

Docs API đơn giản có thể là các ghi chú, word, excel hoặc các SaaS base service để giúp tạo API nhanh chóng và tiện lợi hơn cũng như hỗ trợ làm việc nhóm hiệu quả hơn.

Đã thử dùng rất nhiều công cụ và nhiều phương tiện khác nhưng không có cái nào phù hợp nhu cầu nên đành tự phát triển một công cụ tạo docs API riêng cho mình, đơn giản và linh hoạt hơn, đó là Apitoy.com.

Cũng như hầu hết các công cụ SaaS based khác để làm Restful API Docs, Apitoy.com cũng cho phép tạo nhiều dự án, mỗi dự án sẽ có nhiều nhóm request (group). Mỗi request sẽ có quy định loại request (GET, POST, PUT..), tham số đầu vào, định dạng cũng như các thông tin request / response của một request.

Một số hình ảnh của Apitoy:

apitoy-zone
Danh sách Zone (Project)
Danh sách các Request của một zone.
Danh sách các Request của một zone.
Chỉnh sửa chi tiết một Request
Chỉnh sửa chi tiết một Request
Chi tiết một Request Docs
Chi tiết một Request Docs

Mock Server

Cũng như các lập trình viên thiết kế Restful API khác, việc dựng một Mock server từ một API Docs là một nhu cầu cực kỳ cần thiết để việc test cũng như tách biệt giữa web service consumer & service producer trong quá trình phát triển ứng dụng. Nhờ có Mock server mà phía frontend có thể có data giả (fake data) nhưng có cấu trúc đúng với cấu trúc của API thiết kế và sẽ không lệ thuộc vào backend phải hoàn thành API trước khi thử.

Apitoy có một tính năng rất thú vị và độc đáo là cho phép tự tạo một mock service dựa vào một request mà bạn đã thiết kế và response data (fake data) sẽ được auto-generate khi có request vào đúng mô tả request của bạn như đúng HTTP Method (GET, POST< PUT…), đúng URL…
Lưu ý là để mock service có thể chạy thì bạn bắt buộc phải tạo ít nhất 1 response cho request. Các snippet động “{{…}}” sẽ được bỏ khi xem docs và được thay thế khi có request để lấy mock data.

Apitoy hỗ trợ một số hình thức generate dữ liệu động sau:

Kiểu dữ liệu chuẩn

Nếu các giá trị có dạng “Integer”, “Float”, “String” thì sẽ được thay thế bằng các dữ liệu ngẫu nhiên tương ứng với kiếu giá trị như “100”, “3.14”, “Hello world”…

Faker Snippet

Apitoy có tích hợp thư viện https://github.com/fzaninotto/Faker để giúp bạn generate các dữ liệu ngẫu nhiên trông “thật” hơn ví dụ:

String{{phoneNumber}}: Thay thế bằng số điện thoại ngẫu nhiên
String{{email}}: thay thế bằng email ngẫu nhiên
Integer{{randomNumber}}: thay thế bằng một số ngẫu nhiên
Integer{{randomNumber:5}}: thay thế bằng một số ngẫu nhiên có 5 chữ số

Bạn có thể tham khảo website https://github.com/fzaninotto/Faker để biết tất cả các Snippet hỗ trợ trong Apitoy để generate các dữ liệu “giống thật” hơn.

Apitoy Snippet

Bên cạnh các snippet hỗ trợ từ thư viên Faker, apitoy còn cung cấp 2 snippet khác là “enum” và “repeat”.

– String{{enum:option1:option2:option3}}: chọn ngẫu nhiên một giá trị trong danh sách option. Ví dụ: Integer{{enum:0:1}}, String{{enum:”Yes”:”No”}}…

– {{repeat:repeat_id:repeat_count:repeat_seperator}}…{{/repeat:repeat_id}}: lặp lại một đoạn code được đánh dấu. Trong đó: “repeat_id” để đánh dấu đoạn code cần lặp, không có 2 đoạn repeat có cùng “repeat_id”. “repeat_count” số lần lặp lại của đoạn code bạn đánh dấu. “repeat_separator” ký tự phân cách giữa các lần lặp, mặc định là dấu phẩy “,”.

Ví dụ một đoạn code có đánh dấu cho Mock service:

{
    "total": Integer,
    "items": [
        {{repeat:item:2}}
        {
            "id": Integer{{randomNumber:5}},
            "internalid": String{{uuid}},
            "jobtitle": String{{sentence:3}},
            "phone": [
                {{repeat:phone:2}} String{{phoneNumber}} {{/repeat:phone}}
            ],
            "address": String{{streetAddress}},
            "isdeleted": Integer{{enum:0:1}},
            "datecreated": Integer{{unixTime}},
        }
        {{/repeat:item}}
    ]
}

Khi có request vào, server sẽ trả về dữ liệu sau:

{
    "total": 2834983,
    "items": [

        {
            "id": 86279,
            "internalid": "fa25b791-e185-37c1-8830-37ad177e6832",
            "jobtitle": "Nisi architecto laudantium aperiam.",
            "phone": [
                 "499.613.9008" , "(616)119-4152x20704" 
            ],
            "address": "730 Alene Wall",
            "isdeleted": 1,
            "datecreated": 264592903,
        }
        ,
        {
            "id": 90095,
            "internalid": "140abd91-3aba-3562-9dc1-d8f9ce275444",
            "jobtitle": "Tempore et ad quisquam.",
            "phone": [
                 "1-275-835-9601x690" , "05349335502" 
            ],
            "address": "796 Hauck Garden Suite 358",
            "isdeleted": 0,
            "datecreated": 364877373,
        }

    ]
}

——

Hy vọng bài viết này sẽ giúp các bạn có cái nhìn chi tiết hơn về cách triển khai một hệ thống Restful API.

Categories
Python

Download sách “Python rất là cơ bản”

python-co-ban

Hiện nay, Python là một trong những ngôn ngữ lập trình đang được chú ý bởi tính đa dạng về ứng dụng, thư viện phong phú và cộng đồng đông đảo.

Đã làm việc với PHP 10 năm, và có những tác vụ mà PHP khó mà thực hiện tối ưu được, khiến mình phải tiếp cận với Python trong giai đoạn này.

Cuốn sách nhỏ này được viết trong quá trình mình bắt đầu học Python và giải quyết các bài toán cơ bản theo nhu cầu của mình.

Hy vọng những ghi chép của mình cũng sẽ giúp ích cho những ai đang quan tâm đến việc ứng dụng Python vào công việc và xử lý hiện tại.

Mục lục

Sách được chia làm 15 chương, mỗi chương sẽ trình bày 1 khía cạnh của Python mà mình sẽ gặp phải và sẽ hữu ích khi biết các kiến thức này trong việc áp dụng Python vào công việc trong tương lai.

  1. Hello world
  2. Cú pháp
  3. Phân chia module
  4. Class
  5. Kết nối MySQL
  6. Kết nối Redis
  7. Kết nối Memcached
  8. Kết nối RabbitMQ
  9. Restful Client
  10. Thao tác trên tập tin
  11. Xử lý hình ảnh
  12. Xử lý file JSON
  13. Xử lý file XML
  14. Gởi email với SMTP
  15. Socket Programming

Link Download (PDF & EPUB): https://github.com/voduytuan/python-book-for-dummies

Hy vọng mọi người thấy cuốn sách nhỏ này hữu ích và sẽ không ngại học ngôn ngữ Python vì tương lai Python sẽ là một ngôn ngữ rất hot. Và cũng đừng quên tham gia và đóng góp nhiều hơn cho cộng đồng open source.

Enjoy learning & Coding!

Categories
PHP

PHP build và deploy với Jenkins và Docker

7.jenkins-dashboard
Bạn thường deploy code bằng cách nào? Sử dụng FTP để drag & drop file từ máy lên server? Hôm nay mình sẽ chia sẻ cho mọi người một cách deploy code bài bản hơn một chút nhờ sử dụng Jenkins. Ngoài ra, Bài viết cũng tập trung cho các dự án code bằng PHP và có sử dụng một số đồ chơi để phân tích code PHP khi build. Nối tiếp chuỗi bài viết về Docker, bài viết này cũng sẽ hướng dẫn chạy Jenkins trên môi trường Docker.

Jenkins là gì

Nếu như các bạn có quan tâm đến các kỹ thuật CI/CD thì sẽ không thể không biết đến “anh đại” Jenkins. Jenkins là một bộ phần mềm viết bằng Java và hỗ trợ rất mạnh mẽ việc build và deploy code trong quá trình triển khai code lên các môi trường mà bạn đang làm việc như test, beta, production…

Trước đây, để cài đặt một server Jenkins thì đỏi hỏi khá nhiều công sức và khá rắc rối khiến cho nhiều anh chị em bỏ cuộc nữa chừng, khiến cho việc tiếp cận với các đồ chơi của Jenkins bị hạn chế. Và trước đây mình cũng nhiều lần cài đặt Jenkins và cũng vọc nhưng cũng không thấy mặn mà lắm vì mỗi lần cài đặt, setup khá vất vả.

Tuy nhiên, nhờ sự trợ giúp của Docker, ngày nay, việc cài đặt Jenkins là một trải nghiệm “sung sướng”. Chỉ cần pull image chính thức của Jenkins và làm theo một số chỉ dẫn tại https://hub.docker.com/_/jenkins/ là đã nhanh chóng dựng được Jenkins để trải nghiệm quá trình build và deploy code nhanh chóng.

Jenkins và PHP

Mục tiêu của phần này giới thiệu đến mọi người một Jenkins Docker image mà mình xây dựng riêng cho các dự án hằng ngày là tích hợp sắn các phần mềm và plugin kèm theo trong jenkins cho PHP. Image này mình có public trên docker hub, có tên là “voduytuan/jenkins-php-docker”.

Một số đồ chơi PHP cài thêm cho server này là:
– Toàn bộ đồ chơi tại http://jenkins-php.org (loại trừ phpdox mình không xài nên không cài)
– Xdebug extension để generate code coverage report
– Jenkins Git plugin để pull code từ repo Github hoặc Bitbucket..
– Jenkins Push Over SSH plugin để deploy code lên server
– Docker bên trong jenkins (^^!) để build các image và push lên private registry cho các dự án microservice
Các bạn có thể tham khảo Dockerfile để biết thêm các đồ chơi mình cài cũng như có thể tạo riêng cho mình một image với các đồ chơi theo nhu cầu của bạn.

Bạn có thể start Jenkins bằng câu lệnh sau:
~ > docker run -d --name jenkins -p 9090:8080 -v /data/jenkins/jenkins-php-docker:/var/jenkins_home:rw voduytuan/jenkins-php-docker

Hướng dẫn tham số:
– “-v /data/jenkins/jenkins-php-docker:/var/jenkins_home:rw”: Một tham số cần lưu ý là mount volume thư mục data của jenkins (/var/jenkins_home). Đây là toàn bộ dữ liệu của Jenkins trong quá trình sử dụng. Ở đây mình mount vào thư mục /data/jenkins/jenkins-php-docker trên máy. Bạn có thể để thư mục “jenkins-php-docker” là rỗng hoặc clone từ repo của mình (https://github.com/voduytuan/jenkins-php-docker) để có sẵn một template tên là “php-template” để sau này khi tạo project thì sử dụng template để tạo nhanh các cấu hình build dự án. Lưu ý việc phân quyền user cho thư mục bạn mount volume. Đơn giản nhất là cứ quyền 0777.

Sau khi chạy docker run, chờ một thời gian (một vài phút tùy server) để Jenkins khởi động và bạn có thể truy cập đến Jenkins thông qua IP của server và port bạn khai báo (vd: 9090). Nếu thành công, bạn sẽ thấy màn hình như bên dưới:

0.jenkins-plain
Dashboard của Jenkins

Khởi tạo Jenkins

Khi chạy Jenkins lần đầu thì Jenkins hoàn toàn không có một cơ chế bảo mật nào hết và cho phép truy cập ẩn danh. Bạn có thể làm theo 1 số thao tác đơn giản sau để tạo tài khoản Admin và phân quyền lại cho an toàn hệ thống.

1.jenkins-firststep
Manage Jenkins

Vào Manage Jenkins > Configure Global Security và chỉnh như hình bên dưới để cho phép tạo tài khoản:

2.jenkins-config-global-security
Configure Global Security

Sau khi cấu hình, nhấn lưu thì góc trên bên phải sẽ hiện link đăng ký, và đăng nhập. Tiến hành đăng ký tài khoản đầu tiên.

3.jenkins-create-user
Jenkins create new user

Sau khi tạo tài khoản và đăng nhập vào, bạn quay lại trang “Configure Global Security” để cấu hình như bên dưới.

4.jenkins-config-global-security-matrix-permission
Configure Global Security

(Nội dung thay đổi là bỏ cho phép đăng ký và chọn hình thức Authorization là Matrix-based security và add user bạn vừa tạo vào bảng phân quyền, đồng thời chọn hết các quyền cho user này, sau đó nhấn Apply và Save để hoàn tất quá trình thay đổi.

Ngoài ra, cũng trong trang này, phần “Markup Formatter” chọn là “Raw HTML” để trong trang dự án hiển thị HTML được trong phần “Description”.

Với tài khoản hiện tại, bạn có thể tạo tài khoản cho các thành viên khác có nhu cầu sử dụng hệ thống và phân quyền theo nhu cầu của bạn. Bài viết sẽ không đi sâu vào hướng dẫn phân quyền, bạn có thể tham khảo trên google hoặc trên trang web chính thức của Jenkins.

Sau khi quyền hạn và cài đặt đã xong, bạn tiến hành tạo project để thực hiện CI/CD cho dự án của mình.

Tạo project và tiến hành build

– Tạo một project mới và đặt tên tùy ý và với template mẫu là “php-template” (nếu bạn thư mục mount có project đã clone từ repo của mình hướng dẫn). (Xem hình)

5.jenkins-new-project
Create new project in Jenkins

Nhấn OK để tạo và đến trang cấu hình của dự án này. Trang cấu hình là trang quan trọng nhất của dự án bởi nó sẽ giúp bạn cài đặt các thao tác cho dự án này.

6.jenkins-project-configuration
Project Configuration

Có 3 bước cơ bản (quan trọng) trong trang cấu hình bạn cần biết là:
1. SCM: Bạn cần link đến repo source code của bạn. Mặc định Jenkins ko hỗ trợ Git, nhưng bản Docker image của mình đã cài Git plugin nên bạn có thể cấu hình liên kết đến các Git repo (github, bitbucket…). Ví dụ cấu hình Git:

12.jenkins-scm
Git SCM

2. Build: dùng để cấu hình, chọn các cách thức build dự án. Ở template “php-template” thì mình build bằng Apache Ant (thông qua file build.xml tại thư mục gốc của sourcecode – mình sẽ share file build.xml mẫu cho một dự án php ở cuối bài).

3. Post-build action: là các thao tác được thực hiện. Đó có thể là phân tích các file output (xml, json..) từ bước build tạo ra và tạo các report, hoặc là SSH vào remote server để deploy code, thực hiện một câu lệnh nào đó hoặc build một docker image mới rồi push lên repo sau khi build success. Có rất nhiều plugin của Jenkins hỗ trợ nhiều khía cạnh build khác nhau. Có thể tham khảo thêm trên Jenkins plugin. Hình chụp một số Post-build action trong dự án của mình:

Post build Action vẽ biểu đồ
Post build Action vẽ biểu đồ

Post build action Push Over SSH
Post build action Push Over SSH

Một số kết quả generate từ các post-build action theo template mẫu “php-template”:

8.project-dashboard
Jenkins Project Dashboard
9.jenkins-code-coverage
PHPUnit Code Coverage Report
10.jenkins-plot
Jenkins Plot
10.jenkins-jdepend
JDepend Report

Bạn có thể tìm hiểu thêm tại http://jenkins-php.org/ để hiểu rõ về cách đọc các report về ứng dụng PHP của bạn.

Hy vọng những chia sẻ về Jenkins này sẽ giúp bạn nhanh chóng và dễ dàng triển khai Jenkins cho hệ thống của mình để quá trình build và deploy code được tự động, nhanh chóng và an toàn hơn.


Cấu trúc thư mục của dự án Apitoy để mọi người hiểu hơn về các đường dẫn trong file config.
apitoy-directory
File sample build.xml dùng cho Ant cho dự án của mình, chia sẻ để mọi người tham khảo.

Trong file build.xml có sử dụng 2 file xml khác cho phpmd và phpunit. 2 file này cũng được chia sẻ bên dưới.

Categories
Technology

Triển khai môi trường web bằng Docker

docker introduction

Số là dạo này làm việc và nghiên cứu nhiều về kiến trúc Microservice và đang chuyển toàn bộ kiến trúc sang Microservice. Trong quá trình này, Docker là một công nghệ không thể nào bỏ qua vì Docker sẽ giúp ích rất nhiều trong quá trình triển khai và quản lý các service. Trong phạm vi bài viết này mình sẽ không đi sâu vào chi tiết kiến trúc Microservice cũng như mô tả kỹ về hoạt động của Docker mà sẽ tập trung vào giới thiệu sơ về Docker và dựng một môi trường thực tế dùng Docker để triển khai Web Server cho một website.

Categories
Android Mobile

Quy trình cập nhật app Karaoke Vietnam

karaoke vietnam banner

Sáng nay ngồi cập nhật Vol 54 của Arirang cho ứng dụng Karaoke Vietnam mới phát hiện vậy là cũng gần tròn 4 năm (từ đầu năm 2011) mình theo dự án này. Đây quả là dự án huyền thoại vì chưa có dự án nào mình theo lâu như vậy mà kiếm tiền được từ nó. Sáng nay rảnh rỗi nên viết một bài chia sẻ quy trình mỗi lần cập nhật danh sách bài hát (Vol) mới cho ứng dụng này như thế nào để mọi người coi chơi.

Categories
Miscellaneous

New Year’s Resolution of 2015

Screen Shot 2014-12-31 at 7.47.55 PM

Vậy là còn vài tiếng nữa là kết thúc năm 2014 với quá nhiều thăng trầm. Không biết mọi người như thế nào chứ đối với mình, năm 2014 đúng là một năm đầy thú vị và có những điều sẽ không bao giờ quên trong cuộc đời của mình.

Categories
Business PHP Tech Startup Web Programming

Reader.vn (2011 – 2014)

readervn-mang-xa-hoi-sach-viet-nam-2011-2014

“Lùi một bước trời cao đất rộng” là câu mình hay nói với mọi người khi gặp một vấn đề khó, bởi khi có một góc nhìn rộng hơn, với nhiều thông tin hơn dù cho phải lùi lại một bước thì cũng đáng phải làm vì điều này sẽ giúp ích được nhiều khi ra các quyết định. Reader.vn là một dự án “thú cưng” của mình từ 2011, đến này đã chạy hơn 3 năm 6 tháng và có trên 40,000 thành viên và hơn 50,000 đầu sách. Tuy nhiên, do hiện tại có một số “sóng gió” nên mình đóng cửa mạng xã hội này để chờ thời cơ ra mắt một Reader.vn mới.

Categories
Business Technology

Big Data hay Deep Data?

Big data everywhere

Dạo gần đây có nhiều hội, nhóm, diễn đàn và các anh ăn trên, ngồi tróc (CxO) bàn về Big Data nên mình cũng đú theo một bài hy vọng chia sẻ góc nhìn của mình về cái gọi là Big Data này.

Categories
PHP Web Programming

Xây dựng hệ thống load balancer cho web

load-balancer

Dạo này với xu hướng mọi người bắt đầu làm Tech startup ngày càng nhiều (cụ thể là web & app startup), tuy nhiên do chưa có kinh nghiệp triển khai kiến trúc server nên đôi khi các bạn đâu đó sẽ gặp tình huống khóc dỡ là web quá nhiều lượt truy cập (có thể do chạy campaign hoặc ngày ra mắt…) làm cho web bị treo vì không trở tay kịp.

Mình viết bài này với hy vọng các anh chị em tech startup hoặc anh chị em IT chịu trách nhiệm lo về phần scaling cho website có một chút thông tin về xây dựng hệ thống Load balancer phòng trường hợp server quá tải.